Các dịch vụ:
* Dụng cụ phẩu thuật: 098.8955.504

Dụng cụ phẩu thuật

Lịch sử hình thành và phát triển của phẫu thuật nội soi.

Từ thời Hippocrates (460-375 CN) đã sử dụng mỏ vịt để soi trực tràng và âm đạo.

Năm 1805, Phillipe Bozzini (Đức) dùng ánh sáng phản xạ từ gương để quan sát trực tràng, bàng quang và âm đạo.

Năm 1879, Max Nitze (Đức) dùng ống soi cứng với ánh sáng điện để soi bàng quang.

Năm 1901, Georg Kelling (Đức) là người đầu tiên soi ổ bụng qua trocar trên chó và có bơm khí trời vào khoang phúc mạc.

1910, Hans Christian Jacobaeus (Thụy Điển) tiến hành soi ổ bụng và soi lồng ngực trên người; Georg Kelling cà H.C Jacobaeus đã đyă ra thuật ngữ nội soi ổ bụng "laparoscopy".

Richard Zolikofer (1924) (Thụy Sĩ) sử dụng CO2 bơm vào ổ bụng (nhằm tránh nguy cơ cháy nổ trong ổ bụng và được hấp thu nhanh sau mổ).

Năm 1932, Schinder đã chế tạo ra ống soi dạ dày nửa mềm.

Năm 1933, C.Fervers (Đức) đã lần đầu tiên gỡ dính qua nội soi ổ bụng.

Năm 1938, Janos Veress (Hungary) chế tạo ra bơm khí có van an toàn ở đầu, có thể tụt vào trong khi kim đâm xuyên qua cân cơ và nhô ra ngoài che đầu nhọn của kim khi tới ổ phúc mạc.

Năm 1952, Fourestier đã phát minh ra ánh sáng lạnh.

Dụng cụ phẩu thuật



Năm 1960, Hopkins (Anh) chế tạo ra kính soi dùng hệ thống thấu kính hình que cho hình rất sáng và sắc nét. Năm 1963, Storz lần đầu tiên truyền ánh sáng lạnh qua các sợi cáp quang mềm, giúp giảm thiểu nguy cơ bỏng các tạng và điện giật. Năm 1964, Kurrt Semm (Đức) chế ra máy bơm khí tự động điều chỉnh áp lực và lưu lượng khí vào ổ bụng thay cho máy bơm khí bằng tay trước đây. Ông cũng là người có công chế tạo nhiều dụng cụ nội soi như: kính soi với góc nghiêng, dụng cụ đốt cầm máu, móc đốt điện, que cột chỉ từ bên ngoài cơ thể, máy bơm rửa và hút tự động và chính Ông là người đầu tiên tiến hành cắt ruột thừa nội soi vào năm 1980.

Năm 1982, Fukuda (Nhật Bản) đã phát minh ra siêu âm nội soi (endo echography).

Năm 1983, Allyn đã phát minh ra hệ thống video dành cho ống soi mềm.

Năm 1986, người ta đã chế tạo được hệ thống camera nhỏ có vi mạch điện toán được gắn vào đầu ống soi giúp phóng đại và truyền hình ảnh từ ổ bụng ra màn hình.

Năm 1987, Phillip Mouret (Lyon – Pháp) tiến hành thành công trường hợp cắt túi mật nội soi đầu tiên trên người, mở ra một kỷ nguyên mới của phẫu thuật nội soi. Năm 1988 kỹ thuật này được áp dụng ở Mỹ (Reddick, Olsen) và sau đó phát triển nhanh chóng ứng dụng trên khắp thế giới và còn được gọi là "phẫu thuật xâm nhập tối thiểu" (minimally invasive surgery).

- Do những ưu điểm của phương pháp, ngay sau khi ra đời, phẫu thuật nội soi đã phát triển rất nhanh, rất mạnh cả về số lượng phẫu thuật và loại phẫu thuật. Hiện nay, phẫu thuật nội soi được áp dụng rộng rãi để điều trị nhiều bệnh lý ngoại ngoai khoa ổ bụng, lồng ngực, tiết niệu, sản phụ khoa, xương khớp, nội tiết, tai mũi họng, phẫu thuật thần kinh, cột sống… Nhiều loại phẫu thuật nội soi đã hoàn toàn thay thế phẫu thuật mở, có những loại phẫu thuật đang dần dần thay thế. Những năm gần đây, trên thế giới, nhiều loại phẫu thuật phức tạp nay đã có thể mổ nội soi với số lượng phẫu thuật phức tạp nay đã có thể mổ bằng nội soi với số lượng đáng kể và kết quả khá tốt như mổ nội soi cắt khối tá-tụy, mổ nội soi cắt gan lớn, mổ nội soi cắt lấy gan để ghép từ người cho sống, mổ nội soi cắt hoàn toàn bộ dạ dày có nạo vét hạch…

Dụng cụ phẩu thuật


Dụng cụ dùng trong phẫu thuật khá phức tạp và đối với từng ca phẫu thuật bộ phận khác nhau thì có yêu cầu về dụng cụ phẫu thuật khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ những thông tin về các loại dụng cụ dùng trong phẫu thuật cơ bản. Dụng cụ cầm giữ mô có răng hay không có răng. Dựa vào nguyên tắc, dụng cụ có răng có thể gây sang chấn mô. Các dụng cụ có răng nhỏ không hay ít răng gây sang chấn. Tuy nhiên, dụng cụ có răng sẽ có tác dụng cầm giữ mô chắc chắn hơn các dụng cụ không răng.

- Đồng thời với các tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ, nhiều kỹ thuật mới đã và bước đầu đang được áp dụng trong phẫu thuật nội soi như mổ nội soi với ít lỗ đặt trocar (sử dụng một trocar có nhiều kênh đưa dụng cụ); phẫu thuật nội soi qua các lỗ tự nhiên (natural orifire transluminal endoscopic surgery – NOTES) như qua đường âm đạo, dạ dày, đại tràng; phẫu thuật nội soi ổ bụng với một đường rạch nhỏ (single incision laparoscopic surgery – SILS); phẫu thuật nội soi với robot hoặc robot hỗ trợ…

3. Phẫu thuật nội soi tại Việt Nam.

- Ở Việt Nam, trường hợp phẫu thuật nội soi cắt túi mật đầu tiên đã được thực hiện bởi Nguyễn Tấn Cường tại bệnh viện Chợ Rẫy ngày 23/9/1992. Những năm tiếp theo, phương pháp này đã được ứng dụng ở nhiều cơ sở y tế như: Bệnh viện Bình Dân (1993), Bệnh viện Việt Đức (11/1993), Bệnh viện Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh (5/1995), Bệnh viện 103 (4/1996), Bệnh viện 108 (9/1996)… Đến nay phẫu thuật nội soi cắt túi mật đã được áp dụng tại nhiều bệnh viện trong cả nước.

Tại Bệnh viện Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh, trong thời gian từ 5/1995 -5/2006 đã thực hiện được trên 12000 trường hợp phẫu thuật nội soi gồm 32 loại thuộc 8 chuyên khoa khác nhau, chiếm tỷ lệ 58% trong tổng số phẫu thuật của bệnh viện. Trong số đó nhiều nhất là mổ nội soi cắt túi mật (gần 9000 trường hợp), mổ nội soi cắt nang buồng trứng (trên 1000 trường hợp), mổ nội soi cắt ruột thừa (gần 650 trường hợp), mổ nội soi lấy sỏi đường mật (trên 500 trường hợp), lấy sỏi niệu quản (trên 300 trường hợp), phẫu thuật đại trực tràng nội soi (gần 300 trường hợp), mổ nội soi lồng ngực cắt hạch giao cảm (trên 250 trường hợp)…

Tại Bệnh viện 103 – Học viện Quân y, đã triển khai áp dụng phẫu thuật nội soi lần đầu tiên vào ngày 17/4/1996. Đến nay đã tiến hành được được trên 10000 trường hợp phẫu thuật nội soi gồm trên 30 loại thuộc 8 chuyên khoa khác nhau, trong đó nhiều nhất là mổ nội soi cắt u phì đại lành tính tuyến tiền liệt (trên 3000 trường hợp), mổ nội soi cắt ruột thừa viêm (trên 1000 trường hợp), mổ nội soi cắt túi mật (gần 900 trường hợp), mổ nội soi lồng ngực cắt hạch giao cảm (gần 200 trường hợp), mổ nội soi khớp gối (gần 200 trường hợp, mổ nội soi cắt đại trực tràng (trên 100 trường hợp), nội soi tán sỏi mật qua da (trên 100 trường hợp), mổ nội soi cắt tuyến giáp (gần 100 ca), mổ nội soi cắt tử cung (trên 70 ca); đặc biệt đã mổ soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ được trên 50 trường hợp vơi kết quả tốt.

Dụng cụ phẩu thuật

4. Chỉ định và chống chỉ định của phẫu thuật nội soi.

Chỉ định phẫu thuật nội soi

Nhìn chung, có thể tiến hành phẫu thuật nội soi ở đại đa số các bệnh lý ngoại khoa.

- Các loại phẫu thuật nội soi đang tỏ rõ ưu thế với số lượng lớn là cắt túi mật, cắt ruột thừa, cắt nang buồng trứng, cắt u thì đại lành tính tuyến tiền liệt, lấy sỏi niệu quản, cắt chỏm nang gan, nang thận, lấy sỏi đường mật, cắt đại trực tràng, phẫu thuật Heller-Nissen, cắt hạch giao cảm ngực, phẫu thuật nội soi khớp gối, phẫu thuật nội soi chức năng xoang…

- Các phẫu thuật khác cũng đang được áp dụng ngày càng gia tăng như cắt tử cung, cắt thận, cắt tuyến thượng thận, cắt thực quản, cắt dạ dày, cắt tuyến ức, cắt tuyến giáp…

- Các phẫu thuật khó như cắt gan, cắt khối tá tụy… cũng đang bước đầu áp dụng với số lượng còn chưa nhiều.

Chống chỉ định mổ nội soi

- Bệnh lý tim phổi nặng.

- Rối loạn đông máu.

- Nhiễm khuẩn huyết.

- Thoát vị lớn thành bụng.

- Chấn thương có huyết động không ổn định hoặc phối hợp với chấn thương sọ não có nguy cơ tăng áp lực nội soi.

Có 2 loại màn hình là: TFT (mỏng) và CRT, chức năng là hiển thị hình ảnh phẫu trường. Hiện nay sử dụng loại mỏng với độ phân giải cao (nhưng phải phù hợp với độ phân giải của camera). Màn hình được đặt ngang tầm nhìn vơi phẫu thuật viên theo hướng chính diện, nên có 2 màn hình dành cho phẫu thuật viên chính và phẫu thuật viên phụ.

 Hệ thống này gồm ống kính soi, đầu camera và bộ xử lý tín hiệu CCU. Chức năng nhằm truyền tải tín hiệu hình ảnh thu tại phẫu trường tới màn hình.

- Camera – đầu thu CCD (charged coupled device) nhận tín hiệu photon và biến nó thành tín hiệu điện tử electron và phát lại trên màn hình huỳnh quang. Các camera hiện nay thường là loại 3 chip với độ phân giải cao. Cần lưu ý các thông số: độ chói, màu, độ nhậy, độ phân giải và chế độ tự điều chỉnh, vật kính.

- Đầu camera có loại đầu thẳng và đầu gập góc, loại có thể hấp tiệt trùng hoặc không hấp được, loại có thể ngâm và loại không ngâm nước, loại có hoặc không có hệ thống kính zoom.


Đèn mổ Đèn mổ là gì?, Hệ thống chóa đèn phản chiếu được thiết kế nhờ vào kỹ thuật điện toán qua phản chiếu Parabol, tạo chùm tia phản chiếu song song không hắt bóng
Bàn mổ Là dòng bàn mổ cao cấp với 3 tiêu chí chắc chắn,, Tính năng an toàn: tự động bảo vệ chống va chạm, hệ thống điều khiển dự phòng bằng thủy lực, khóa sàn tự cân bằng.
thiết kế web Việt SEO Thiết kế web chuẩn SEO là các loại website có khả, Thiếu đi một trong các yếu tố này, độ chuẩn SEO của một website sẽ giảm đi và khó lòng được các công cụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Bing… đánh giá cao hay

- Phone: +84-908-744-256